Tôi từ biệt vùng Ngũ đại hồ trong làn gió Thu hiu hắt, theo quốc lộ 90 đi về hướng đông, trực chỉ bờ Đại Tây Dương. Đất nước Hoa Kỳ bao la, buổi sáng tôi rời bang New York, chiều mới tới địa giới bang Massachusetts, chập tối mới đến Boston.

Một thoáng thành cổ


Từ quốc lộ 90, vượt qua sông Charles là đến quận Cambridge, phía tây Boston, ta cảm nhận được ngay không khí tịch mịch, nét cổ kính và tràn đầy tính hiếu học. Trên mảnh đất chỉ 4 km2 chen chúc 20 trường đại học, trong đó có 5 trường danh tiếng có trên trăm năm lịch sử. Đâu đâu cũng thấy những tòa nhà chóp nhọn đỏ rực, những tháp chuông kiểu Gothic, cách vài bước lại có một cây cổ thụ trăm năm tuổi. Vỉa hè được lát bằng gạch đỏ, ví như "con đường trải thảm đỏ dẫn tới cánh cửa trí thức” (hình dưới).




Từ Cambridge bước qua cây cầu nhỏ là đến khu trung tâm Boston, đập ngay vào mắt du khách là kiến trúc tiêu biểu của Boston – Tòa nhà nghị viện bang Massachusetts với vòm vàng chói mắt. Tòa nhà được xây năm 1789, có chóp tròn trông hơi giống nhà Quốc hội Mỹ ở đồi Capital, hóa ra là tác phẩm của cùng một kiến trúc sư (hình dưới). Chóp vàng là niềm tự hào chung của bang Massachusetts, vì ở Mỹ có một quy định: Bang nào ít nhất từng có 3 vị tổng thống, tòa nghị viện mới được dát vàng. Massachusetts đã có tới 5 vị cựu tổng thống: J.Kennedy, cha con Adams, Cha con Bush. Cũng giống như tòa Bạch ốc và Quốc hội, nghị viên bang mở cửa cho du khách tham quan tự do, khác hẳn cảnh phòng vệ nghiêm ngặt tại những nơi công quyền ở các nước khác.



Tòa nhà nghị viện bang Massachusetts



Trước tòa nhà nghị viện là Đại lộ Tự do (Freedom trail), con đường uốn khúc hơn 3 km, bắt đầu từ Công viên Boston (Boston Common) và kết thúc tại thị trấn Charles. Công viên Boston nói đúng hơn chỉ là một thảm cỏ lớn, nhưng được xây dựng năm 1634, là công viên cổ xưa nhất Hoa Kỳ. Công viên Đại chúng (Public Garden) tiếp theo mới là một công viên đúng nghĩa. Tuy không có hành lang uốn khúc như nhà vườn ở Tô Châu Trung Quốc, nhưng cũng có đủ cầu, hồ nước, đình đài. Khi tôi đến đã là mùa thu, lá phong đỏ rực, khiến tôi nghĩ đến câu thơ của thi nhân Đỗ Mục đời Đường:

Dừng xe, chiều ngắm rừng phong thẳm,

Lá đỏ hơn hoa giữa tháng Hai.


Một góc của Đại lộ Tự Do

Không có Boston, sẽ không có Hợp Chủng Quốc


Tháng 9 năm 1620, khoảng 100 tín đồ Thanh giáo (một nhánh đạo Tin Lành) bị bức hại tại chính quốc Anh, đã đi trên con tàu “Hoa tháng Năm” vượt Đại Tây Dương. Họ định đến vùng Virginia ấm áp, nhưng qua 2 tháng trôi dạt, họ đã đi lạc tới bán đảo Cod cách đích đến cả ngàn km lệch về hướng bắc. Mùa đông lạnh giá năm đó đã khiến những người tị nạn đói khổ chết quá nửa. Sang xuân năm sau, họ học hỏi cách canh tác của thổ dân da đỏ và được bội thu vào tháng 11 năm đó. Từ đó họ đã định ngày thứ Năm trong tuần thứ tư của tháng 11 là ngày ghi nhớ công ơn của Chúa cũng như những người đã cứu giúp họ. Ngày lễ Tạ Ơn (Thanks Day) có nguồn gốc từ đó và được ấn định là ngày lễ chính thức của Mỹ và Canada, được nghỉ 2 ngày, dân chúng ăn mừng náo nhiệt chẳng khác gì bên mình ăn Tết.

Năm 1640, di dân Anh Quốc đã lên tới 20.000 người, dần dần hình thành bang Massachusetts. Bước sang những năm 1820, di dân Ý và Ireland tràn tới lập nghiệp, lấn át cả chủ nhân ban đầu, trở thành cộng đồng cư dân chiếm đa số. Kèm theo dòng di dân mới là Công giáo La Mã, nay đã trở thành cộng đồng tôn giáo lớn nhất tiểu bang. Đầu thế kỷ 20, người Ireland bước vào chính trường, xuất hiện những dòng tộc lỗi lac như gia đình Kennedy.

Năm 1774, thực dân Anh ban hành thuế con niêm (thuế tem), người Boston vùng lên chống thuế, đổ toàn bộ tàu trà của người Anh xuống biển. Người Anh tuyên bố giải tán nghị viện Massachusetts, thực hiện chế độ thống trị trực tiếp. Bang Massachusetts lập tức đáp trả bằng hàng động tách khỏi nước Anh, triệu tập “Đại hội Châu lục”, 13 bang thuộc địa đồng loạt hưởng ứng, trở thành tiền thân quốc hội liên bang sau này.

Năm 1775, quân Anh từ Boston hành quân đến bờ sông Concord để tiêu hủy kho đạn dược của dân quân Mỹ, hai bên chạm trán ở Lexington, chiến tranh bùng nổ. Dân quân kém quân địch cả về quân số lẫn trang bị, nhưng đã chiến đấu anh dũng và mưu trí, đặc mai phục diệt gọn 1.000 quân Anh. Phía Mỹ cũng hy sinh 400 người. Chiến dịch Concord-Lexington, mở đầu cho cuộc chiến chống chế độ thực dân đầu tiên trên thế giới, khai sinh Hơp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đóng góp cho loài người những di sản vô giá: bộ hiến pháp thành văn đầu tiên, chế độ tam quyền phân lập, chính thể tổng thống, nền cộng hòa liên bang. Tất cả mọi thứ, đều bắt đầu từ phát súng đầu tiên ở Boston, nên người Mỹ thường nói: "Không có Boston, sẽ không có Hợp chủng Quốc".

Thăm lại chiến địa xưa, nay cỏ đã xanh mơn mởn, cây hòe rợp bóng hai bên đường, sông Concord uốn khúc, có cây cầu nhỏ nối liền 2 bờ. Phía đông cầu là bia tưởng niệm các trung hồn đã ngã xuống, phía tây cầu là phù điêu tái hiện hình ảnh hào hùng nghĩa quân năm xưa (hình trên), bục tượng có khắc bài thơ theo thể “14 dòng” của nhà thơ Emerson quê ở Boston (Lữ khách trích dịch):

Cây cầu nhỏ, từng tắm trong khói lửa năm xưa,

Trước gió tháng Tư, ngọn cờ nhuộm máu, vẫn phất phới trong mưa.

Người nông dân, đã bỏ cuốc cày khoác lên mình áo lính,

Vang tiếng súng, cả thế giới như bừng tỉnh trong giấc mơ… 

Tôi vốn là một “lữ khách” đích thực, đi tất bật rồi lại phải rời Boston ngay trong đêm. Mở đầu cuộc hành trình mới, nhưng lòng tôi vẫn xao xuyến về một Boston cổ kính mà hiện đại, những con người cởi mở và thân thiện. Nếu không nổ ra phát súng đầu tiên ở đó, có thể chưa có “Yankee, con quái vật phương Bắc” (lời Hosé Marty) hùng mạnh ngày nay.

Tác giả: Chung Chí Thành

bài viết khác

FacebookTwitterAddthis