Với lối kiến trúc phần lớn được biết đến nhờ vào những công trình được xây dựng từ thời người Khmer cổ đại… Khi chiêm ngưỡng những công trình này, ta không thể không khâm phục sức mạnh phi thường và bàn tay tài ba của những người dân Khmer…

 

 

 

Dưới đây chúng tôi xin trích đăng một vài nét độc đáo về các công trình kiến trúc đồng thời là những điểm tham quan nổi tiếng của Campuchia.

 

Hoàng cung: Hoàng cung xây dựng năm 1866, vừa là nơi ở đồng thời cũng là nơi làm việc của Quốc vương Campuchia từ năm 1870. Hiện nay, Quốc trưởng Sihamoni vẫn còn ở và làm việc tại đây. Công trình này có kiến trúc đẹp, quay mặt về đại lộ Sothearos nhìn ra sông Mekong.

 

SiemRiep: Cách PhnomPenh 314km đường bộ, cố đô của đế chế Khmer mà biểu tượng rực rỡ nhất là quần thể Ankor, cách SiemRiep 7km được xây dựng từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIII. Angkor nằm giữa khu rừng già nguyên sinh có diện tích khoảng 40km2 về phía Bắc SiemRiep. Từng là trung tâm văn hoá chính trị của đế chế Khmer hùng mạnh. Với hàng trăm đền đài, Angkor được xem là kỳ quan hàng đầu thế giới về điêu khắc và kiến trúc. Từ thế kỉ XIV, những ngôi đền chìm vào quên lãng. Mãi đến năm 1860 mới được phát hiện bởi Hessi Mouhot, một nhà thám hiểm người Pháp (mộ ông hiện đang ở Luang Phrabang – Lào). Năm 1992, UNESCO công nhận Angkor là quần thể văn hoá thế giới.

 

Angkor: Là cái tên chỉ một vùng đất nằm ở phía Đông Bắc Campuchia. Gốc của từ Angkor là từ “Nagara” trong tiếng Phạn nghĩa là “Kinh đô”. Người Khmer phát âm từ Kinh đô là “Nôkor”, người Pháp lại đọc và ghi lại là Angkor. Từ đó thuật ngữ Angkor trở nên thông dụng trong các sách vở. Angkor là cả một thời kỳ huy hoàng nhất của cả dân tộc Khmer, kéo dài từ năm 802 – 1431. Nhưng nói tới Angkor, người ta nghĩ ngay đến một đô thị với những đền tháp kỳ vĩ, niềm tự hào của nền nghệ thuật kiến trúc không chỉ của dân tộc Khmer mà còn của cả nhân loại. Lịch sử của Angkor là lịch sử hình thành phát triển và hoàn thiện kiến trúc độc đáo có một không hai của người Khmer – kiến trúc đền núi.

 

Nền văn minh Angkor hình thành và phát triển trong suốt gần 700 năm, trải qua 27 triều vua trong đó có cả thời đại cực thịnh của Vương quốc. Trong khoảng thời gian khá dài, người Khmer đã xây dựng được một xã hội văn minh, có nếp sống tinh thần sân sắc, phong phú và những công trình kiến trúc lớn lao, độc đáo.

 

Trong số những công trình kiến trúc đó, nổi bật nhất là khu hòang thành Angkor Thom (còn gọi là Đế Thiên) – có nghĩa là Kinh Đô Lớn – trong đó có đền Bayon rất nổi tiếng và khu đền thờ Angkor Wat (Đế Thích) – có nghĩa là Kinh Đô Chùa, hai khu vực cách nhau khoảng 1,5km. Ngoài ra, Angkor còn có hơn 20 khu vực đền thờ lớn nhỏ khác nhau nằm rải rác xung quanh vùng hồ Baray Tây, các ngôi đền này cách nhau từ vài trăm mét đến mấy cây số. Tất cả tạo thành một toàn cảnh cực kỳ hùng vĩ.

 

Campuchia va nhung diem tham quan noi tieng
Đền Angkor Wat.

 

Angkor Wat: (Kinh đô chùa) là biểu tượng huy hoàng của đất nước Campuchia. Ngay sau khi được phát hiện vào năm 1861, Angkor wat đã làm cho các nhà nghiên cứu bàng hoàng. Angkor Wat cũng như nhiều đền đài khác ở Angkor là một đền mộ gắn với việc thờ thần Vua của các vua chúa Khmer thời Angkor. Các vua Angkor coi mình là hiện thân của thần linh nên khi còn sống mỗi vị vua đều xây cho mình một ngôi đền như đền thờ của thần linh. Khi chết, theo quan niệm của người Khmer, vị vua đó sẽ trở thành thần và nhập vào ngôi đền của mình đã xây dựng.

 

Cùng với tục thờ thần vua, một loại hình kiến trúc kỳ lạ của người Khmet ra đời – đền núi. Mỗi ngôi đền mộ là hình ảnh của quả núi vũ trụ Meru – nơi cư ngụ của thần linh. Loại hình kiến trúc đền núi bắt đầu hình thành ở Campuchia từ đầu thời Angkor – thời vua Jayavarman II (trị vì từ năm 790 – 850). Thoạt đầu đền núi Khmer còn rất thô sơ nhưng dần dần từng bộ phận cấu thành một đền núi hoàn chỉnh xuất hiện và hoàn thiện. Đến thời điểm ra đới của Angkor Wat (nửa cuối thế kỉ XII), mô hình đền núi Khmer đã hoàn thiện đến từng chi tiết nhỏ. Angkor Wat không phải xuất hiện từ hư vô, mà là kết tinh, đỉnh cao của hơn 300 năm phát triển loại hình đền núi Khmer.

 

Angkor Wat là một kiến trúc dạng kim tự tháp 3 tầng. Tầng trung tâm có 5 tháp được bố cục theo sơ đồ ngũ điểm (tháp chính cao nhất ở giữa, bốn tháp nhỏ hơn ở 4 góc). Tháp trung tâm nối với 4 cổng ở 4 hướng bằng những hành lang có cột và mái che. Nhưng sau đó không lâu, Angkor Wat cùng với các đền đài khác lại bị tàn phá và bị con người bỏ rơi cho núi rừng xâm chiếm và bao phủ. Đến cuối thế kỷ XIX Angkor Wat mới lại được bắt đầu cuộc hồi sinh lần thứ 2 và được đánh giá là một trong những kỳ quan của nhân loại.

 

Angkor Thom (Kinh đô lớn): Được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ 9 đến đầu thế kỷ thứ 10, trước thành có hào nước dài 4km, rộng 100m bao bọc; sau hào nước là bức tường thành ghép bằng đá thật lớn, chạy theo chu vi dài 12km, cao 8m, dày gần 1m. Các tảng đá chồng ghép lên nhau, vững chắc và khích khao đến nỗi “cỏ cũng không mọc được”. Sau bức tường đá là tường đất rộng 25m là đường để quân đi, có xây chốt canh, lỗ châu mai và trồng cây thốt lốt. Từ tường thành có 5 cửa trổ ra: 3 cửa ở mỗi hướng Tây, Nam, Bắc; riêng hướng Đông (là hướng chính) có 2 cửa: 1 cửa chính và 1 cửa phụ (Khải Hòan Môn); cửa phụ là để quân đội xuất quân hoặc chiến thắng trở về; cửa chính thì mai phục hầm chông để khi quân giạc tiến vào cửa chính thì bị sụp hầm không thể đánh thẳng vào Angkor Thom được.

 

Sau mỗi cổng có 3 ngôi tháp chở trên tượng voi đá 3 đầu, bốn mặt khắc hình Phật dài 2m trên vách. Hai bên đường đi vào của mỗi cổng chính có 54 pho tượng khổng lồ (cao 2,6-3m) ôm ngang mình con rắn vĩ đại, lưng quay về phía đô thành; bên trái là các thần, bên phải là các quỷ thể hiện truyền thuyết “khuấy biển sữa tìm thuốc trường sinh”.

 

Campuchia va nhung diem tham quan noi tieng
Các thành viên đoàn Mitsubishi Caravan chụp hình lưu niệm trước đền Bayon.

 

Cảnh khuấy biển sữa diễn ra quanh trục núi Meru, điện Bayon là trung tâm, đại dương được thể hiện qua hình ảnh là hào nước bao quanh thành. Nhịp điệu các thần ngả về phía sau vì gắng sức, đường cong của thân rắn vút lên trời khiến cho cảnh tượng thật mạnh mẽ và hùng tráng. Con đường dài khoảng 1,5m dẫn thẳng tới trung tâm chính của Angkor Thom là điện Bayon. Phía trước cung điện là sân chầu bằng đá ngự trên lưng con voi ba đầu (vật thiêng của thần Indra) là nơi để vua hội họp quần thần. Phía bên phải là nơi để thiêu xác của hoàng tộc. Tất cả các bệ đá này đều được ghép bằng những tảng đá khổng lồ và đều được điêu khắc tinh xảo đến từng cm hình ảnh của các vị thần, các nữ thần Apsara, các cảnh sinh hoạt trong triều đình…

 

Ngoài ra Angkor Thom còn có hàng ngàn ngôi nhà bằng đá (hiện nay đã bị đổ sập), 30 ngôi tháp đá và hơn 100 đền đá, tất cả đều xoay về hướng Đông. Tương truyền rằng Angkor Thom còn có một ngôi tháp, một cây cầu, hai sư tử và một tượng Phật tám thân tất cả đều được làm bằng vàng.

 

Đền Bayon

 

Được xây dựng ròng rã trong 30 năm (880-910) và là trung tâm của quần thể kiến trúc Angkor Thom, đồng thời cũng là tác phẩm kỳ lạ nhất của Jayavarman VII – một hình ảnh tuyệt vời nhất về nghệ thuật biểu tượng hoành tráng Khmer – kiến trúc kỳ diệu nhất của Angkor Thom được truyền tụng là trung tâm của thế giới, là “ngọn núi chính” úp lên vũ trụ.

 

Đền Bayon ở giữa Angkor Thom dài 160m, rộng 140m (chỉ tính phần chính điện). Bình đồ bố cục chính trải ta theo hình chữ thập, các góc ngoài được chặn bằng các hành lang hình thước thợ để tạo thành một bình đồ chữ nhật (80m x 57m). Bố cục này lại được bao quanh dởi một hành lang bên ngoài rộng hơn (160m x 140m).

 

Ở trung tâm là một nền tròn khổng lồ (đường kính 25m) đội ngôi tháp chính cao 23m. Từ tháp chính có 12 gian tỏa ra xung quanh và đai cài giữa hàng loạt ngôi tháp. Riêng ở trung tâm có 16 tháp. Tính tất cả thì Bayon có khoảng 54 tháp lô nhô như một rừng đá. Trên mỗi mặt của tháp đều có hình mặt người. Phía đông nằm giữa hai hồi lang là các thánh thư. Toàn bộ đền Bayon cao 43m. trong điện thờ chính có một pho tượng trầm tư, đồng thời chính là chân dung JayavarmanVII. Các tháp bao quanh đều có tượng chân dung các quan đại thần của vua. Các mặ người trên tháp đã vật chất hòa sự có mặt mọi nơi của vị vua thần linh phóng tầm mắt ra toàn cõi của mình qua bộ Tham mưu tập hợp phía dưới.

 

Một giả thuyết khác khá hấp dẫn và lý thú cho rằng hàng nghìn nụ cười Bayon huyền bí là biểu tượng cho sự kiện màu nhiệm ở Sravasti. Theo Phật thoại, để chứng minh cho phép màu nhiệm vĩ đại của mình, Đức Phật đã phóng mình lên không trung rồi hoá hàng nghìn đức Phật lấp lánh ánh hào quang, xoay quanh như một vòng sao. Muốn đạt được ý tưởng ấy chỉ còn cách xây dựng một kiến trúc bao quanh trục, người ta không thấy có cách nào hữu hiệu hơn để thể hiện hình ảnh trên. Bayon đã thành công trong việc mô tả bằng kiến trúc hình ảnh kỳ diệu về Đức Phật.

 

Cũng như Angkor Wat, Bayon xưa lộng lẫy, rực rỡ vàng son, không phải toàn bằng đá như ngày nay. Các dấu vết còn lưu lại cho biết nhiều chi tiết khiến trúc đá , các hình điêu khắc được sơn thếp hoặc dát, mạ bằng vàng bạc đá quý. Một bia ký nói rằng chỉ để trang trí cho những vị vua ở Bayon đã phải dùng 5 tấn vàng, 5 tấn bạc và 40 nghìn viên đá quý. Công phu, tiền của và tài trí đổ ra để làm Bayon thật đồ sộ. Để chạm khắc tất cả những hình bằng đá ở Bayon cần phải có 1000 điêu khắc giỏi làm việc chuyên cần trong 20 năm.

 

Angkor sụp đổ ngay sau khi Bayon được xây dựng xong. Tuy vậy, đền Bayon cũng đã bừng lên rực rỡ như thời điểm huy hoàng nhất của lịch sử kiến trúc và nghệ thuật Khmer. Song ánh sáng của Bayon là ánh sáng của một vì sao băng, nó ánh lên thật rực rỡ mê hồn để rồi chìm vào bóng đêm. Sau Bayon không một đền núi nào được xây dựng. Cùng với sự cáo chung của kiến trúc đền núi, tôn giáo thờ thần vua cũng mất dần và nhường chỗ cho Phật giáo Theravada. Sau Bayon, cái bóng của Angkor cũng tan luôn vào thời gian phủ bụi. Triều đại và thời thế có đổi thay nhưng Bayon, ngôi đề kỳ lạ nhất đồng thời cũng lãng mạn nhất của dân tộc Khmer vẫn trường tồn cùng với đất nước Campuchia và nhân loại như một công trình kiến trúc đầy sáng tạo của con người.

Mạnh Hùng
(Ảnh: Trọng Anh)

icon_contentChương trình tour tham khảo:

  • Khám phá Campuchia – Đất nước chùa tháp và kỳ quan Angkor Wat